Thứ Tư, 29 tháng 1, 2020

Đầu Xuân góp ý chế độ tiền tệ: Làm cho gì để không bị nhìn nhận là sử dụng tỷ giá để khó khăn thương nghiệp?

Gần đây Mỹ tiếp tục đưa vn vào trong danh sách 10 nước nhà cần giám sát, theo thông báo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các bên thương nghiệp lớn của Mỹ” do Bộ Nguồn vốn Mỹ ban hành ngày 14-1-2020. Ngay sau khi có tin tức này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có giận dữ bằng cách thức phát đi một thông báo giải thích và phân tích căn nguyên dẫn tới kết luận trên của phía Mỹ, song song khẳng định Việt Nam không dùng tỷ giá để cạnh tranh thương mại.

Nhờ "thiên thời, địa lợi"

Một trong những căn cứ để NHNN chắc chắn như trên là sự ổn định của tỷ giá. Cụ thể, năm vừa qua khi mà một số đồng tiền khu vực và quốc tế mất giá mạnh, tỷ giá USD/VND tương đối ổn định, phản ảnh đúng cung cầu hoạt động mua bán. Thậm chí có thời gian tiền đồng còn lên giá so với đô la Mỹ.

Phân tách sâu hơn, nhân tố chủ chốt góp phần giữ định hình tỷ giá bán đồng bất chấp sức ép phá giá từ các đồng bạc khác trong khu vực và trên nhân loại là dòng vốn FDI dồi dào. Một phần trong số này đổ vào các công trình chế biến hướng xuất khẩu, sử dụng triệt để ưu điểm của vn như một điểm trung chuyển, xóa cội nguồn, căn do trong khoảng một nước thứ ba để xuất khẩu vào thị trường chính là Mỹ với thuế suất thấp trong bối cảnh thương chiến Mỹ-Trung.

Dòng vốn FDI dồi dào phát hành thặng dư thương mại lớn tới chục tỷ USD cho vietnam trên một nền móng vững mạnh GDP theo thông báo đạt trên 7% là mức kỷ lục trong phổ biến năm nay trong khi lạm phát đứng ở mức thấp khiến cho ý định thúc đẩy, hỗ trợ xuất khẩu trở thành không còn bức thiết như trước đây mỗi khi nền kinh tế có tín hiệu vững mạnh trì trệ.

Trên nền móng như vậy, NHNN quả thực cũng chẳng có mấy lý do để phải duy trì một đồng phiên bản tệ yếu. Ngược lại, một đồng bản tệ yếu thường sẽ tạo áp lực lên lạm phát nhất là khi nền kinh tế đang tăng trưởng với tốc độ cao. Đồng thời, tỷ giá tăng sẽ được nhìn nhận như là một dấu hiệu bất ổn vĩ mô. Đây là những điều mà NHNN hoàn toàn không đằm thắm gì khi phải đương đầu.

Đổi lại cho sự bình ổn tỷ giá và lạm phát thấp là một mặt bằng lãi suất cao. Đương nhiên, nhịn nhường như giới công ty đã tỏ ra "thích nghi" với mặt bằng lợi nhuận suất này từ nhị, ba năm nay và hiện người ta cũng không còn nghe thấy mấy lời kêu ca về lãi suất cao từ phía các công ty nói phổ biến nữa. Quan trọng hơn, có nhẽ các đơn vị cũng nắm bắt rõ rằng phàn nàn lãi suất cao nhưng nền kinh tế vẫn phát triển tốt, chứng tỏ các doanh nghiệp nhìn thông thường vẫn đang "ăn nên làm ra" thì sự phàn nàn, nếu như có, cũng không hữu ích gì.

Bối cảnh vẫn có thể thay đổi với tốc độ cao và mạnh

Hãy cân nhắc tới một kịch bạn dạng có hại đối với vietnam. Ví thử thương chiến Mỹ-Trung được giải quyết chấm dứt điểm trong hòa bình, bằng dàn xếp song phương. Lúc đó, mọi việc sẽ lại quay quay về với trật tự hầu hết cũ, ở trên khía cạnh là áp lực phải di dời hạ tầng sản xuất từ China hoặc một nước nào đó có xung chợt thương nghiệp với Mỹ sang vn tránh. Đi kèm với rủi ro này là sự tụt giảm mạnh của dòng vốn FDI chảy tham gia Việt Nam như năm qua do nhà đầu tư nước ngoài không còn mấy yêu cầu và động lực chi tiền tham gia vn như một hạ tầng trú bão (thương nghiệp) nữa.

Sự đổi mới như trên thế tất vừa khiến cho nguồn cung đô la từ FDI giảm đi, cùng lúc còn làm cho thặng dư thương mại (chủ đạo được dẫn dắt bởi khu vực đơn vị FDI) cũng thu nhỏ lại, thậm chí có thể đảo chiều. Cả hai điều này sẽ làm khó cho NHNN nếu muốn giữ định hình tỷ giá ở thế cả chủ động lẫn bị động. Áp lực "điều chỉnh" tỷ giá khiến cho VND yếu đi cho nên sẽ có kỹ năng xuất hiện trở lại.

Bối cảnh này hoàn toàn không hề xa lạ gì với vietnam, như đã được chứng kiến trong nhiều giai đoạn trong khoảng năm 2018 trở về trước, mặc dù NHNN vẫn luôn duy trì chủ trương ổn định (tỷ giá) của mình.

Yếu tố khác biệt cơ bản trong bối cảnh này so với những năm chông gai của tỷ giá trước đó là dự trữ ngoại ăn năn của vn theo NHNN cho biết đã đạt gần 80 tỷ USD, tức tương đương gần 4 04 tuần nhập cảng, trên mức bình yên theo khuyến cáo của các doanh nghiệp quốc tế là 3 bốn tuần. Đây là mức cao kỷ lục trong khoảng trước đến nay ở vn.

Dự trữ ngoại ăn năn lớn hơn sẽ là tấm đệm đỡ các cơn sốc tỷ giá trong mai sau, nếu có. Đương nhiên, nhân tố này mới chỉ là xét trên góc cạnh của một chính sách ngoại ân hận mang phong độ bị động, chống đỡ khi có cơn sốc tỷ giá.

Ở thế chủ động, do vẫn tồn tại kịch bạn dạng tăng trưởng GDP giảm tốc do các lợi thế đem đến cho vn trong khoảng thương chiến Mỹ-Trung không còn nữa, nên vẫn cần phải để ngỏ một chính sách tiền đồng yếu, hoặc chí ít là không lên giá thực so với đô la và các ngoại tệ cốt yếu khác, nhằm hỗ trợ xuất khẩu, phát triển kinh tế (thực tiễn là phương hướng chính sách tiền tệ của NHNN bây giờ vẫn còn mục tiêu này – cung cấp tăng trưởng kinh tế - trong số các tiêu chí được đặt ra), nhất là khi các nước trong khu vực và trên thế giới tiếp tục hạ lãi suất, làm yếu phiên bản tệ của mình.

Phải khiến gì?

Phân tách ở trên cho thấy nếu tậu phương pháp "trói" tỷ giá thì có nghĩa là chúng ta đã bỏ đi một công cụ chế độ có công dụng tránh các cơn sốc do bên ngoài ảnh hưởng. Song trong mai sau, khi đề xuất vấn đề chỉnh tỷ giá như những năm lúc trước, dù NHNN có thể không hy vọng như vậy, việc yếu tố chỉnh tỷ giá này có thể được nhìn nhận như hành động phá vỡ cam kết của NHNN.

Để phát huy công dụng của công cụ tỷ giá khi cần thiết phải sử dụng nhằm cung cấp xuất khẩu, song song tránh bị gắn cho nhãn "thao túng tiền tệ", NHNN có thể để ý phương án hạ lãi suất, vốn có tác dụng gián tiếp làm cho yếu VND so với đô la Mỹ. Việc hạ lợi nhuận suất sẽ được xem là có lí và dễ được hài lòng hơn bởi nó thường gắn liền với yêu cầu chính đại quang minh kích thích kinh tế nội địa mỗi khi có biến cố bất lợi nào đó ngăn cản lớn mạnh kinh tế như chung, như vẫn được các nước trên trái đất dùng nhiều lần. Và thực tiễn là trong 3 tiêu chí Mỹ đặt ra để theo dõi cũng không có mục tiêu nào về lãi suất.

Hành động hạ lãi suất của NHNN sẽ còn được nhìn kiếm được một cách thức tích cực hơn nữa bởi cả Chính phủ lẫn đơn vị và người dân khi nó vẫn đang neo ở mức cao như bây chừ.

Tất nhiên khi hạ lãi suất phải tính tới rủi ro lạm phát tăng. Dù thế, khi nền kinh tế đã giảm đà lớn mạnh (hoặc tệ hơn) thì sức ép lạm phát tạo ra bởi nới lỏng có chừng mực mực cung tiền thường không hề là một không may lớn, như kinh nghiệm của không chỉ riêng ở vietnam mà còn ở rộng rãi nước trên thế giới cho thấy.

TS. Phan Minh Ngọc

Theo Tài chính Plus


Xem nhiều hơn: mua nha

0 nhận xét:

Đăng nhận xét